Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Quảng Ngãi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Báo Quảng Ngãi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

Thơm ngon gỏi mít non

Ngày bé, mỗi dịp hè tôi lại được về thăm quê nội. Trưa hè oi bức, bà lại ra vườn hái mít non làm gỏi trộn, món ăn tuy đơn giản, nhưng rất ngon và đã đi vào ký ức tuổi thơ tôi như một kỷ niệm khó phai mờ. 

Mít non có thể chế biến nhiều món ăn, nhưng với chúng tôi, ngon nhất có lẽ là món mít non trộn. Những sợi mít nhỏ nhắn, điểm vào cọng rau thơm, trẻ con miền quê đứa nào cũng thích. Bà bảo phải chọn trái mít suông, chưa nở gai, xẻ đôi ra có màu trắng ngà thì món trộn mới ngon. Mít non hái vào, bà tỉ mỉ gọt bỏ phần gai xanh, lấy phần da trắng và phần thịt, cắt bỏ cùi, xẻ mít thành từng miếng lớn dọc theo chiều dài của cuống mít để khi luộc vẫn giữ nguyên được vị ngon ngọt. 

Mít non trộn dân dã. 

Sao sáng sông Trà

Chí sĩ yêu nước Lê Ngung là một trong những ngôi sao sáng ở vùng đất sông Trà. Tài liệu lịch sử đã viết: Lê Ngung là một trong 284 Anh hùng của Việt Nam. Bảo tàng Tổng hợp tỉnh hiện đang làm hồ sơ đề nghị công nhận mộ và đền thờ Lê Ngung là di tích lịch sử cấp tỉnh, như là cách để nhắc nhớ thế hệ hôm nay và mai sau về một con người có tấm lòng yêu nước nồng nàn, kiên cường, bất khuất. 

Chuyện ông Tú Ngung 

Chúng tôi tìm về xã Bình Thanh (Bình Sơn), nơi tọa lạc mộ và nhà thờ Lê Ngung. Qua lời kể của ông Lê Thanh Hùng, cháu đời thứ 3 của cụ Lê Ngung, mỗi người đều trào dâng niềm xúc động, hiểu và cảm nhận sâu sắc hơn tấm lòng yêu nước thương dân, sự hy sinh cao cả của cụ Lê Ngung. 

Nhà thờ chí sĩ yêu nước Lê Ngung. 

Chợ Chùa- mạch nối quá khứ và hiện tại

Chợ Chùa vừa là tên chợ, vừa là tên thị trấn của huyện Nghĩa Hành. Nằm ven Tỉnh lộ 624B, cách TP.Quảng Ngãi 8km về hướng tây bắc, dấu tích của chợ Chùa xưa còn lại là miếu bà nằm bên chợ, nơi con người đã in dấu trên vùng đất một thời buôn bán sôi động giữa hai miền Kinh - Thượng.

Trở lại thị trấn Chợ Chùa, chúng tôi được gặp một số cụ cao niên từng gắn liền với chợ Chùa. Cụ Nguyễn Thiệt (1938) ở thôn Xuân Vinh, xã Hành Đức (Nghĩa Hành) thong thả ăn sáng bên góc chợ Chùa bảo: Thỉnh thoảng tôi đến chợ Chùa, không phải mua những thứ cần thiết mà chỉ để nhớ về ký ức xa xưa...

Theo lời kể, tuổi thơ ông Thiệt sớm gắn liền với chợ Chùa. Mới lên 7 tuổi ông đã bị tật ở chân, nên sớm học nghề may vá. Tiệm may của ông nằm bên hông chợ Chùa. Vì vậy, ông đã chứng kiến nhiều câu chuyện văn hóa, sự phát triển, giao thương một thời ở chợ Chùa. 

Chợ Chùa (Nghĩa Hành) hôm nay. 

Nhớ món canh tôm rau đắng

Giữa phố đông người, tình cờ nghe bài hát “Còn thương rau đắng mọc sau hè” của cố nhạc sĩ Bắc Sơn, bao nhiêu ký ức tuổi thơ ùa về trong tôi. Nhớ bàn tay ân cần của mẹ nấu bát canh rau đắng với tôm, nhớ mỗi lần bị cảm sốt mẹ vội tìm rau đắng nấu với lá xông hay gội đầu mỗi khi khỏi bệnh.

Ngày đó, cứ sau mỗi trận mưa dông, xung quanh nhà cỏ mọc tua tủa, đặc biệt là rau đắng. Rau có cọng nhỏ, mọc thành luống rậm, xanh mướt, làm dịu mát nắng hè oi ả. Các bà mẹ quê thường dùng loại rau này để chế biến thành thức ăn giải nhiệt. 

Rau đắng nấu canh tôm là món ăn giải nhiệt ngày hè. 

Chà là – miền ký ức của tuổi thơ

Sáng nay đi ngang chợ quê, tình cờ nhìn thấy một phụ nữ lớn tuổi ngồi bên rổ chà là, bao nhiêu ký ức tuổi thơ chợt ùa về...

Ngày trước, trẻ con ở quê thường không được ăn quà vặt. Những trái cây từ núi rừng là món quà mà đứa nhỏ nào cũng thích, nhất là quả chà là. Mùa chà là chín rộ vào vào tháng 5. Đám trẻ con chúng tôi í ới gọi nhau vào rừng hái chà là. 

Trái chà là từng là cả tuổi thơ của bao người. 

Cháo lòng, bánh hỏi

Hỏi bữa sáng người Quảng thường ăn gì, thì đa phần sẽ trả lời: Cháo lòng - bánh hỏi. Thực chất hai món điểm tâm này có thể bán riêng biệt ở các quán khác nhau, nhưng ở Quảng Ngãi đến quán cháo lòng, thì hầu hết ai cũng kêu thêm đĩa bánh hỏi để ăn cùng.

Thật ra, bánh hỏi và lòng heo vốn không phải là món ăn chỉ Quảng Ngãi mới có. Thế nhưng, mỗi vùng miền lại có một cách kết hợp và thưởng thức khác nhau. Ở quê tôi, tô cháo, đĩa lòng heo, bánh hỏi sẽ được xếp riêng kèm rau sống. Gắp một lá bánh hỏi, kèm thêm miếng lòng heo và ít rau sống, rồi chấm nước mắm đã pha đậm vị. Thi thoảng lại bẻ miếng bánh tráng nướng giòn giòn thơm thơm, húp vài thìa cháo ấm ấm nữa thì đúng là không gì bằng! Hương vị rất riêng ấy đã khiến bao người "phải lòng" món ăn này. 

Món cháo lòng, bánh hỏi. 

Bò hít - món ăn vặt tuổi thơ

Có lần, người bạn từ Sài Gòn trên đường về quê ở tít vùng cao phía Bắc, đã tiện đường ghé ngang nhà tôi chơi. Bạn bảo: “Có món gì đặc sản ở đây, dẫn mình đi thưởng thức cho bằng hết nhé”. Tôi chở bạn lòng vòng thành phố, rồi tạt vào quán don, quán ốc hút, bánh rập... Bữa cuối trước khi tiễn bạn lên xe để tiếp tục về lại quê, tôi chợt nhớ ra còn một món ăn gắn liền với nhiều thế hệ học sinh ở quê mình.

Món tôi dẫn bạn đi ăn, là món ăn vặt hầu như không đứa học trò nào là không biết, đó là bò hít. Thật sự, món bò hít có ở nhiều nơi, với các tên gọi khác nhau như: Gỏi đu đủ, nộm đu đủ chua ngọt... Nhưng ở Quảng Ngãi, món này có cách gọi và hương vị đặc biệt hơn khi ăn kèm với bánh tráng nướng và có vị cay đặc trưng. 

Món bò hít. 

Đậm đà bánh bột lọc xứ Quảng

Ở mỗi vùng miền, bánh bột lọc có cách làm khác nhau. Riêng bánh bột lọc xứ Quảng có hương vị đậm đà của nhân tôm, đậu xanh, bánh mềm dai, tạo nên một nét rất riêng.

Bánh bột lọc, cái tên nghe bình dị và dân dã, gợi nhớ về những mùa đông tuổi thơ ngập tràn hạnh phúc bên bếp lửa hồng, cả nhà quây quần bên nhau, vừa chuyện trò, vừa làm bánh bột lọc. Dáng bà nghiêng nghiêng ngồi nhào bột, chụm lửa cho nồi bánh chín và thương biết bao đĩa bánh có những chiếc bánh không nhân mẹ dành riêng phần mình trong những ngày gian khó. 

Bánh bột lọc nhân tôm, đậu xanh. 

Nhớ thương nón lá chợ Đình

Chợ Đình, xã Tịnh Bình (Sơn Tịnh) nổi tiếng từ xa xưa với mặt hàng nón lá. Theo dòng chảy của thời gian, nghề làm nón lá dần mai một, để lại sự tiếc nuối trong lòng những ai từng yêu quý chiếc nón lá chợ Đình.

Một thời tấp nập

Bên chiếc khung làm nón lá, bà Bùi Thị Xí (73 tuổi) ở xóm Khánh Tượng, thôn Bình Nam, xã Tịnh Bình như quay trở lại thời gian khi bà ở tuổi đôi mươi. Ngày đó, nhà nào cũng có khung làm nón, nhiều nhất là các thôn Bình Nam, Bình Bắc. 

Bà Bùi Thị Xí (ở giữa) thường đem khung làm nón ra ngắm nghĩa và kể chuyện cho các cháu nghe về nghề truyền thống của cha ông. 

Chèo thúng đưa khách du ngoạn đảo Bé

Từ chỗ phát triển nhỏ lẻ thì nay công việc này đã phát triển thành một nghề chuyên nghiệp, trở thành nghề “hot” của ngư dân. Nếu một lần đến đây, du khách đừng quên bỏ lỡ chuyến hành trình khám phá những rặng san hô gần bờ, ngắm cảnh quan đảo Bé trên những chiếc thúng của ngư dân.

“Phiêu” trên thúng 

Với lời hẹn trước, từ cổng đảo Bé, lão ngư Lê Minh Quang, 60 tuổi, “người thủ lĩnh” đội thuyền thúng lặn ngắm san hô với khuôn mặt trẻ hơn tuổi vồn vã đón khách, dùng xe di chuyển khách ra bãi sau. 

Ra đến nơi, những đồng nghiệp của ông Quang đã sẵn sàng phương tiện phục vụ. 5 chiếc thúng, mỗi thúng độ khoảng 2-3 khách. Họ là những người đàn ông trung niên, là những trai tráng sống trên đảo, có kinh nghiệm chèo thúng và tuyệt nhiên không có phụ nữ. Bởi phụ nữ thì không đủ sức vượt qua những con sóng mạnh mẽ.

Về bức ảnh cổ thành Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX: Trăm năm người xưa, chuyện cũ

 Có lẽ cho đến nay, khó có thể tìm thấy hình ảnh nào về Quảng Ngãi cách đây hơn trăm năm trước, trừ dăm bức ảnh bờ xe nước sông Trà do người Pháp chụp. Vừa rồi, tôi tìm thấy một bức ảnh chụp ở cổ thành Quảng Ngãi vào đầu thế kỷ XX. Bức ảnh gợi đôi điều về một tỉnh thành cũ mà dường như nay khó tìm ra dấu vết, vài hình bóng người xưa, cùng câu chuyện lịch sử ở cổ thành này vào thời gian đó.

Các cổ thành ở Quảng Ngãi 

Quảng Ngãi có nhiều cổ thành. Thành Châu Sa là một tòa thành đất của người Chăm, hư hao nhiều, nhưng nay vẫn còn ít nhiều hào, lũy nguyên vẹn, dù đã trải qua hơn mười thế kỷ dãi dầu nắng mưa và lắm cuộc binh đao. Và cũng là của người Chăm, thành Cổ Lũy, thành Bàn Cờ giờ cũng chơ vơ cùng tuế nguyệt. Một thành đất khác, thấm đẫm trong đó ít nhiều huyền thoại, gắn liền với bước chân Quang Chiếu vương Mai Đình Dõng trấn nhậm vùng đất này vào năm 1571, nay cũng còn một đoạn thành. Rồi Phú Nhơn, Phú Đăng, từng là nơi đóng lỵ sở thời còn dinh, trấn Quảng Ngãi, trước khi thành Quảng Ngãi dựng xây kiên cố, nay dường như đã xóa mờ dấu vết. Ở các phủ, huyện xưa, cũng có các tòa thành, như đôi dòng ghi chép trong "Đại Nam nhất thống chí" hay "Đồng Khánh địa dư chí" cách đây hơn trăm năm, nhưng khó có thể nào tìm ra hình hài ngày trước. 

Bức ảnh chụp cổ thành Quảng Ngãi đầu thế kỷ XX. Ảnh tư liệu của Đăng Vũ 

Qua miền sơn cước

Nhiều người cho rằng, vùng núi Quảng Ngãi "không bằng... một góc" vùng cao Tây Bắc. Nhưng với riêng tôi, đã đặt chân đến vùng núi cao của quê hương rất nhiều lần qua những chuyến công tác, thì mảnh đất vùng cao ấy cũng không thiếu những nét đặc trưng, hấp dẫn và thú vị riêng.

Huyện miền núi Sơn Hà với vẻ đẹp rất đỗi giản dị được phác họa lên từ núi non hùng vĩ, hoa lá ven đường, căn nhà sàn nhỏ nhắn, e ấp bên sườn đồi..., nhất là nếp sinh hoạt mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống của đồng bào Hrê nơi đây.

Huyện miền núi này là không gian lý tưởng để mỗi người tìm về, với cảm giác bình yên, để được sống chậm lại, đắm mình giữa thiên nhiên hiền hòa. Đến đây, ta như lạc vào một khung cảnh hoàn toàn khác, cái hoang sơ, dung dị của thiên nhiên và con người nơi đây như góp phần tô điểm nên một bức tranh “cao sơn lưu thủy, phong cảnh hữu tình”. 

Ruộng bậc thang ở xã Sơn Ba (Sơn Hà). ẢNH: BÙI THANH TRUNG 

Mát dịu sương sâm

Sương sâm hay còn gọi là nhân sâm là món ăn vô cùng dân dã, giản dị mà có lẽ với những ai sinh ra từ làng đều biết đến. Gọi là dân dã, giản dị bởi nguyên liệu và cả khâu chế biến sương sâm rất gần gũi, quen thuộc, dễ làm.

Ngày trước, ở quê tôi, cây sương sâm hay mọc ngoài triền núi hoặc xen lẫn với các loại cây ngoài bờ rào. Sương sâm là loại dây leo có lá màu xanh, hình gần giống trái tim. Khi tiết trời chuyển sang những ngày hè nắng, mẹ tôi hay hái lá sương sâm về để làm món ăn có tên gọi giống hệt nguyên liệu tạo nên. 

Những ngày nắng nóng, món sương sâm ăn kèm với nước cốt dừa giúp giải khát, thanh nhiệt cơ thể. 

Bánh nậm, bánh gói quê nhà

Bánh nậm, bánh gói là hai loại bánh song hành trong mỗi mẻ hấp của người dân xứ Quảng. Đó là món ăn dân dã của anh thợ cày vừa xong thửa ruộng; là thức quà quê buổi sáng mà các bà, các mẹ cho con, cho cháu; là món quà mỗi dịp về thăm quê vẫn không quên mua vài chục chiếc để làm quà cho láng giềng, đồng nghiệp.

Còn nhớ, sau những vụ mùa thu hoạch lúa, bà tôi thường chọn những loại gạo tẻ ngon nhất vụ để mang ra làm bánh nậm, bánh gói. Bánh của bà nổi tiếng khắp chợ, bởi cái vị đậm đà được nêm nếm kỹ càng của nhân, thơm bùi của lá, của bánh đã làm say lòng người thưởng thức. Bánh gói có hình chóp, được gói khéo léo sau lớp lá chuối; bánh nậm thì dẹt, có hình chữ nhật vuông vức. Mỗi thớ bánh tuy giản đơn, thoạt nhìn đầy dung dị, nhưng cũng ẩn chứa sự kỳ công của người làm bánh. 

Bánh nậm, bánh gói là món ăn đặc trưng của người dân xứ Quảng. 

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

Giếng xưa giữa lòng phố thị

“Những ngày nắng hạn hoặc gặp khi lũ lớn, người dân các vùng lân cận vẫn tìm đến giếng này để lấy nước về dùng, bởi giếng này không bao giờ cạn nước”, đó là lời của người dân tổ dân phố 2, thị trấn Châu Ổ (Bình Sơn) khi nói về giếng cổ giữa lòng thị trấn. 

Một ngày cuối tháng ba, chúng tôi có dịp về thăm thị trấn Châu Ổ (Bình Sơn) và nghe người dân ở đây nói về cái giếng cổ tồn tại giữa lòng thị trấn. Trong cái nắng gay gắt của những ngày đầu hè, nhiều người dân đến múc nước từ giếng về dùng, bởi theo họ thì nước giếng ngọt, thanh hơn cả nước máy đã được bắc đến tận nhà. 

Giếng cổ có tuổi đời hơn 100 năm nằm ngay giữa lòng thị trấn Châu Ổ (Bình Sơn). 

Về thăm quê nhà thơ Tế Hanh

Cách trung tâm TP.Quảng Ngãi hơn 25km, xã Bình Dương (Bình Sơn) - nơi chôn nhau cắt rốn của nhà thơ Tế Hanh, bình yên đến lạ. Khung cảnh làng quê nơi đây lại gợi nhớ những vần thơ: “Quê hương tôi có con sông xanh biếc, nước gương trong soi tóc những hàng tre. Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè, toả nắng xuống lòng sông lấp loáng…” (tác phẩm Nhớ con sông quê hương, Tế Hanh sáng tác năm 1956). 

Dòng sông Trà Bồng thơ mộng là nguồn cảm hứng sáng tác của nhà thơ Tế Hanh. 

Giờ đây, xã Bình Dương ngày càng thay da đổi thịt, nhưng nét mộc mạc, tự nhiên, chân chất của xóm làng, của con người như trong lời thơ của Tế Hanh thì vẫn vẹn nguyên như xưa. Vẫn còn đó lũy tre làng soi bóng trên sông; những đứa trẻ hồn nhiên nô đùa, thả những cánh diều uốn lượn trên nền trời xanh, và còn đó chiếc cầu tre gõ nhịp yên bình... 

Đến An Kỳ lộng gió

Rất ít du khách biết đến bãi biển An Kỳ - một bãi biển đẹp nằm ở xã Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi), dù địa danh này nằm cách bãi biển Mỹ Khê chưa đầy một cây số. Đây là bãi biển đẹp hoang sơ, yên bình với điểm nhấn là những rặng dừa cao vút in bóng dưới nền cát trắng mà ít có bãi biển nào ở Quảng Ngãi có được.

Băng qua bãi cát trắng vòng cung theo mép sóng, bãi biển An Kỳ hiện ra trong xanh, đẹp đến nao lòng. Đặc biệt, hơn 200 gốc dừa mấy mươi năm tuổi do người dân vun trồng, chăm sóc từ hơn 40 năm trước, giờ vươn xanh trên nền cát trắng An Kỳ đã tạo nên điểm nhấn đẹp khó tả cho bãi biển hoang sơ này. 

Hàng dừa soi bóng bên bãi biển An Kỳ, xã Tịnh Kỳ (TP.Quảng Ngãi). 

Xóm xu xoa

Khi nhắc tới món ăn xu xoa, người ta nghĩ ngay đến miền biển đảo như Lý Sơn, nơi có nguồn rong biển dồi dào. Thế nhưng, nghề này cũng theo những lái buôn di cư về phố. Họ thu mua rồi chở về thành thị, phơi khô để cung ứng cho thị trường và nấu bán cho khách, kiếm lời, hình thành một xóm nhỏ chuyên làm nghề này.

Nghề lâu đời 

Món xu xoa được nấu từ rau xu xoa, một loại rong biển mọc tự nhiên. Mùa rong biển rộ nhất là vào khoảng tháng Giêng cho đến tháng 5 Âm lịch hằng năm và đây cũng là lúc con đường Nguyễn Văn Linh, ở phường Trương Quang Trọng (TP.Quảng Ngãi) trở nên bận rộn nhất. Người dân ở đây tất bật vào mùa sơ chế nguyên liệu để cung ứng ra cho thị trường, khách hàng chủ yếu là những người bán xu xoa trong tỉnh.

Bà Dương Thị Kim Hương, 54 tuổi bộc bạch, bà đã có 30 năm gắn bó với nghề làm rau xu xoa tại khu vực này. Còn để tỏ tường hơn về gốc gác của nghề thì bà cũng chỉ nghe kể lại từ các bậc cao niên nhưng ước cỡ cũng trăm năm. Nhiều nhà đã trải qua mấy đời làm nghề.


Ở đường Nguyễn Văn Linh thuộc phường Trương Quang Trọng (TP.Quảng Ngãi) có nhiều hộ dân làm nghề chế biến rau xu xoa. 

"Sáu xã Vạn Phước" còn mãi với thời gian

Trải qua gần 6 thế kỷ với biết bao đổi thay, thăng trầm, vậy mà cái tên làng “Sáu xã Vạn Phước” vẫn được người làng gìn giữ, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đằng sau cái tên ấy là cả một câu chuyện dài về hành trình mở đất, lập làng đầy cam go, khó nhọc của những thế hệ người đi trước.

Ngày nay, địa danh này một phần thuộc địa phận huyện Mộ Đức, một phần "nằm" ở huyện Nghĩa Hành.

Hành trình mở đất của tiền nhân 

Mang trong lòng những thắc mắc, vì sao hầu hết các nhà thờ họ tại xã Đức Hòa (Mộ Đức) đều khắc dòng chữ “Sáu xã Vạn Phước”, tôi lần giở sử liệu về cái tên này và bắt gặp những thông tin được viết khá tỏ tường từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. 

Tên "Sáu xã Vạn Phước" vẫn còn lưu lại tại nhiều nhà thờ họ và chi phái tại hai xã Đức Hòa, Đức Phú (Mộ Đức). 

Lưu tên lại với đời

Có rất nhiều địa danh, công trình ở nông thôn Quảng Ngãi xưa được đặt tên theo người có công lao, nghĩa hiệp với làng. Cách đặt tên đó xuất phát từ việc người xưa muốn con cháu mai sau ghi nhớ công ơn của bậc tiền nhân.

Trong trường ca “Mặt đường khát vọng” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết vào thời điểm những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có đoạn: “Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại/ Chín mươi chín con voi góp mình dựng Đất tổ Hùng Vương/ Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm/ Người học trò nghèo giúp Đất nước mình núi Bút, non Nghiên/ Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh/ Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm”. 

Chiếc cầu ván mà ông Nguyễn Thời khởi xướng xây dựng, giờ đã được thay thế bằng một cây cầu bê tông vững chãi, song người dân ở tổ dân phố 6, phường Quảng Phú gọi tên cầu là cầu ông Thời.