Tương truyền rằng, khi vua Bảo Đại (1913-1997) kinh lý qua Trấn Hải Dương, dân chúng nơi đây đã dâng lên ngài một thứ bánh được làm từ đỗ xanh. Sau khi thưởng thức thứ bánh đặc sản này, vua Bảo Đại đã cảm nhận được hương vị cũng như tình cảm của người dân nơi đây. Sau khi về cung ông đã ban Sắc lệnh khen bánh đậu xanh Hải Dương. Trên Sắc có in hình “Rồng vàng”, một biểu tượng uy quyền của nhà vua. Kể từ đó bánh đậu xanh Hải Dương có tên mới là: “Bánh đậu xanh Rồng vàng”. Cái tên đó cho đến nay vẫn là thương hiệu riêng để phân biệt với các loại bánh đậu xanh ở các tỉnh khác của Việt Nam. Một chiếc bánh đậu xanh Rồng vàng được làm ra có thể coi là một kì công, kết quả của một nghệ thuật điêu luyện.
Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020
Bánh đậu xanh Rồng vàng
Tương truyền rằng, khi vua Bảo Đại (1913-1997) kinh lý qua Trấn Hải Dương, dân chúng nơi đây đã dâng lên ngài một thứ bánh được làm từ đỗ xanh. Sau khi thưởng thức thứ bánh đặc sản này, vua Bảo Đại đã cảm nhận được hương vị cũng như tình cảm của người dân nơi đây. Sau khi về cung ông đã ban Sắc lệnh khen bánh đậu xanh Hải Dương. Trên Sắc có in hình “Rồng vàng”, một biểu tượng uy quyền của nhà vua. Kể từ đó bánh đậu xanh Hải Dương có tên mới là: “Bánh đậu xanh Rồng vàng”. Cái tên đó cho đến nay vẫn là thương hiệu riêng để phân biệt với các loại bánh đậu xanh ở các tỉnh khác của Việt Nam. Một chiếc bánh đậu xanh Rồng vàng được làm ra có thể coi là một kì công, kết quả của một nghệ thuật điêu luyện.
Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020
Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư và 2 di tích
Trần Khánh Dư (?-1339), người huyện Chí Linh (nay là TP Chí Linh), là tôn thất nhà Trần, con của thượng tướng Trần Phó Duyệt. Ông đã lập nhiều công lao to lớn trong 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông (thế kỷ 13).
Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất năm 1258, Trần Khánh Dư đã giúp vua Trần Thái Tông đánh thắng trong trận quyết chiến chiến lược ở Đông Bộ Đầu. Sau trận này, quân Nguyên Mông bị đánh bật khỏi kinh thành, phải rút quân về nước. Trần Khánh Dư được vua khen là người có trí lược và phong là Thiên tử nghĩa nam. Ít lâu sau, do ông phạm tội nên bị triều đình cách chức trở về quê làm nghề chèo đò bán than.
Năm 1282, trước nguy cơ xâm lược của quân Nguyên Mông lần thứ hai, vua Trần họp Hội nghị Bình Than (ở vùng Trần Xá, nay thuộc thôn Trần Xá, xã Nam Hưng, Nam Sách) lấy ý kiến vương hầu, bách quan bàn kế đánh giặc. Dịp này, vua Trần tình cờ gặp Trần Khánh Dư chèo thuyền chở than qua bến Nhạn Loan trong cảnh "nón lá, áo tơi". Vua cho mời ông tới và phục lại các chức cũ, cho cùng dự bàn kế sách giữ nước và phong chức Phó tướng Đô quân. Sau khi dẹp tan giặc, ông lại được phong tước hầu.
Năm 1288, trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba, Trần Khánh Dư được cử chỉ huy đạo quân phòng giữ vùng biển Đông Bắc. Tại đây, ông cùng quân lính đánh thắng trận Vân Đồn, tiêu diệt hơn 500 chiến thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng để cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần ba sớm kết thúc thắng lợi. Với cống hiến to lớn trong suốt 3 cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, Trần Khánh Dư đã được vua Trần phong tước Nhân Huệ vương.
Cuối đời, Trần Khánh Dư về sống tại Thái ấp sinh từ gần Nhạn Loan cổ độ (nay thuộc khu dân cư Linh Giàng, phường Cổ Thành, TP Chí Linh) là nơi giao thông đường thuỷ phát triển, nhân dân địa phương buôn bán và sản suất đồ gốm. Ông thường động viên nhân dân ở đây tích cực sản xuất nên kinh tế địa phương tương đối phát triển. Tên thôn Linh Giàng xưa còn có tên gọi là làng Gốm.
Sau khi Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư qua đời (năm 1339), nhân dân địa phương đã xây dựng đền thờ ông tại đầu làng Gốm bên bờ sông Kinh Thầy lấy tên “Nhân Huệ vương từ” để tưởng nhớ công lao của ông với quê hương, đất nước.
Như vậy, ngôi đền có thể được xây dựng vào thế kỷ 14 trên đất khu dân cư Linh Giàng. Trải qua những năm tháng lịch sử, di tích đền Gốm đã nhiều lần được trùng tu tôn tạo vào thế kỷ 17, 18. Cuối thế kỷ 19, đền bị thực dân Pháp phá dỡ. Năm 1933, nhân dân thập phương công đức trùng tu lại toàn bộ ngôi đền với kết cấu kiến trúc gồm 3 lớp nhà kiểu chữ Đinh gồm 5 gian đại bái, 5 gian trung từ và 3 gian hậu cung.
Đền được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá quốc gia năm 1994. Năm 2019, được sự quan tâm của Nhà nước và tâm sức của nhân dân địa phương, ngôi đền đã được tu bổ, tôn tạo khang trang như hiện nay theo lối kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm 5 gian tiền tế, 3 gian hậu cung, kết cấu chủ yếu bằng bê tông cốt thép, mái và cửa bằng gỗ tứ thiết.
Không chỉ có làng Gốm thờ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư, ở bên kia tả ngạn sông Kinh Thầy, làng Linh Xá, xã Nam Hưng (Nam Sách) cũng thờ ông tại đình. Tương truyền làng Linh Xá trước kia có tên là xóm Nguyễn. Mới đầu nơi đây chỉ có vài hộ dân sinh sống.
Qua thăng trầm của lịch sử, người dân xóm Nguyễn phiêu bạt, rồi lại trở về sinh cơ lập nghiệp, phát triển đông đúc. Sau đó, xóm Nguyễn được sáp nhập với làng Gốm. Vào thời Nguyễn năm Tự Đức thứ tư (1851), xóm Nguyễn lại tách ra và đổi tên thành làng Linh Xá. Trong thời gian này, nhân dân xây dựng đình và đưa Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư vào thờ tự cùng với 2 vị thành hoàng của làng là Phúc Hộ Uy Minh và Bản Lộ Đô thống. Năm 1963, đình bị hạ giải chỉ để lại 3 gian hậu cung phía sau. Năm 1976, đình bị phá hủy hoàn toàn, các cổ vật bị thất lạc. Năm 1993, nhân dân khôi phục một gian hậu cung để thờ cúng các vị thành hoàng làng. Năm 2000, đình được xây lại hoàn toàn như hiện nay trên nền đình cũ với kiến trúc kiểu chữ Nhị gồm 5 gian đại bái và 3 gian hậu cung.
Hằng năm, hai làng đều tổ chức lễ hội để tướng nhớ Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư. Đền Gốm tổ chức lễ hội vào dịp mùa thu từ ngày 13 - 21.8 âm lịch, trọng hội là ngày rằm tháng 8 - tưởng niệm ngày mất của ông. Trong lễ hội có tổ chức lễ tế, rước nước, bơi chải... thu hút hàng vạn người từ nhiều địa phương trở về.
Đình Linh Xá tổ chức lễ hội hằng năm vào mùa xuân từ ngày 13-15.2 âm lịch, trọng hội là ngày rằm tháng 2 - tương truyền kỷ niệm ngày sinh của ông. Trong lễ hội có tổ chức tế, dâng hương, rước sắc Trần Khánh Dư lên bờ sông Kinh Thầy nhìn sang đền Gốm làm lễ bái vọng rồi lại rước về đình. Ngoài ra, trong các ngày hội dân làng còn tổ chức hát quan họ trên thuyền, các trò chơi dân gian như chọi gà, cướp cờ, kéo co, ném cổ chai...
Lễ Đại kỳ phước - nét đẹp văn hóa cổ truyền
Khu di tích đền Cao (phường An Lạc, Chí Linh) nổi tiếng với nhiều sự lệ đặc sắc mang đậm nét sinh hoạt văn hóa cổ truyền của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, trong đó phải kể đến lễ hội Đại kỳ phước.
Khu di tích lịch sử-văn hóa quốc gia đền Cao gồm 4 ngôi đền và 1 ngôi đình được xây dựng trên nhiều vị trí khác nhau trong không gian rộng gần 1 km2 thuộc phường An Lạc (Chí Linh).
Theo sách “Hải Dương di tích và danh thắng tập 1” của Sở Văn hóa - Thông tin Hải Dương (xuất bản năm 1999), khu di tích đền Cao thờ 5 vị tướng quân họ Vương có công giúp vua Lê Đại Hành đánh quân Tống xâm lược vào thế kỷ X.
Trong đó, đền Cao thờ tướng Vương Đức Minh, đền Cả thờ hai người chị cả Vương Thị Đào và Vương Thị Liễu, đền Bến Tràng thờ tướng Vương Đức Xuân và tướng Vương Đức Hồng.
Khu di tích nổi tiếng với nhiều sự lệ đặc sắc mang đậm nét sinh hoạt văn hóa cổ truyền của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, trong đó phải kể đến lễ Đại kỳ phước. Nghi lễ này được tổ chức vào ngày 26.10 âm lịch hằng năm tại đình Lạc Đạo với ý nghĩa kỷ niệm ngày sinh của 5 vị tướng họ Vương và cầu xin Thành hoàng làng, các thánh ban phước lộc đến cho nhân dân trong khu dân cư. Buổi lễ có nghi thức tế và dâng hương các vị thánh.
Độc đáo đình cổ Lãng Xuyên
Ở huyện Gia Lộc không nhiều ngôi đình còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc đình cổ mang nét đặc trưng của vùng Bắc Bộ như ngôi đình này.
Đình Lãng Xuyên ở thôn Lãng Xuyên, xã Gia Tân (Gia Lộc) tọa lạc trên khu đất cao ráo, thoáng đãng, phía trước là giếng nước trồng sen ngay ở đầu làng.
Chạm khắc tinh xảo
Theo thần phả còn lưu giữ tại đây, đình Lãng Xuyên được xây dựng vào thời Nguyễn và trùng tu nhiều lần. Trải qua biến cố thời gian, đến nay công trình vẫn giữ được nét kiến trúc nghệ thuật cổ xưa.
Đình có kiến trúc kiểu chữ đinh, bao gồm tòa đại bái 5 gian và hậu cung 4 gian. Tòa đại bái có giá trị nghệ thuật cao với kiến trúc kiểu đao tàu déo góc. Kết cấu chính gồm hai phần là mộc và nề ngõa, mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn. Phần mái có 4 vì kèo, trong đó 2 vì kèo gian trung tâm có kiến trúc kiểu chồng giá chiêng, hai vì kèo gian bên có kiến trúc kiểu chồng giường. 4 vì kèo có kích thước khá lớn, các cột cái bằng gỗ lim có đường kính 48 cm, cột quân có đường kính 38 cm.
Đặc biệt, hệ thống hoành được bố trí theo lối “Thượng tứ hạ ngũ” khá chắc chắn. Thượng lương (chồng nóc) chắc khỏe và được soi chỉ kép nghệ thuật. Hệ thống đấu tạo dáng như những bông sen nở. Chất liệu của công trình chủ yếu là gỗ lim còn tốt. Tòa đại bái còn lưu giữ nhiều mảng chạm khắc đạt trình độ nghệ thuật cao mang đậm nét kiến trúc truyền thống, thể hiện nét tài hoa của nghệ nhân xưa như các bẩy hiên chạm các bức “cúc hóa long”, “trúc hóa long”, “lá lật”... đường nét rất mềm mại sống động. Nghệ thuật chạm bong của nghệ nhân xưa còn thể hiện ở các bức chạm “độc long”, “lá lật liên hoàn” hoặc “lá lật xen kẽ” các con rồng nhìn rất sống động hay “rồng hút cá chép” theo tích “ngư long hý thuỷ” khá sinh động. Có đầu dư chạm một con rồng hoàn chỉnh, có đầu dư lại chạm đầu rồng đuôi chim phượng... Các bức chạm trên các chi tiết của 4 vì kèo chính tòa đại bái là tập hợp nhiều mảng chạm khắc dân gian thể hiện thần quyền trong tín ngưỡng, ngoài ra các bức chạm này còn mô tả cỏ cây, hoa lá gần gũi trong sinh hoạt đời thường của người nông dân. Những bức chạm còn lưu giữ được là những tiêu bản rất quý báu giúp khôi phục các công trình cùng thời. Phía ngoài là 4 đầu đao cong vút, đắp “rồng chầu phượng mớm”. Nóc đình đắp “lưỡng long chầu nguyệt”. 2 đầu nóc là 2 con kìm. Các nghệ nhân đã tạo ra những linh vật khá độc đáo, tạo thế uy nghiêm cho công trình.
Tòa hậu cung nối liền với tòa đại bái gồm 4 gian. Hậu cung có một số bức chạm “lá lật” và “độc long” khá đẹp, chất liệu bằng gỗ lim. Móng và tường xây dáng quay chảo mềm mại với những đường gờ chỉ kép, mái lợp ngói vẩy cá truyền thống. Đình còn lưu lại nhiều cổ vật quý từ thời Nguyễn như đồ gỗ có các bức đại tự, câu đối, cuốn thư, ngai thờ, mâm thờ, sập thờ; đồ đá có bia thần tích, bia hậu thần; chuông đồng đúc năm 1933…
Cụ Nguyễn Đức Nội (85 tuổi) ở thôn Lãng Xuyên cho biết theo thần tích, đình thờ Thành hoàng làng hiệu là Ngọc Thị Quỳnh Lang công chúa (thiên thần). Theo phả ký, Ngọc Thị Quỳnh Lang công chúa có công âm phù Hai Bà Trưng trong khi lập đàn ở cửa sông Hát Môn. Sau khi đánh thắng Tô Định, Hai Bà Trưng thấy ứng nghiệm, phong cho bà là Hoa Hùng Uyển Mỵ chinh thục phu nhân thượng đẳng thần, nhân dân lấy sự tích này tôn thờ làm Thành hoàng làng.
Hằng năm, đình mở hội vào ngày 12.10 âm lịch và 15 tháng giêng. Kỳ lễ hội tháng giêng là lớn nhất trong năm. Lễ hội tháng 10 âm lịch là kỷ niệm ngày Thành hoàng âm phù Hai Bà Trưng đánh giặc. Lễ hội này chủ yếu là tế lễ.
Nhân dân phát tâm công đức
Với những nét độc đáo, những giá trị còn lưu giữ, năm 2005, đình Lãng Xuyên được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Trong những năm gần đây, chính quyền và nhân dân địa phương đã góp công, góp của để trùng tu tôn tạo, mở rộng không gian của di tích, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa của địa phương.
Ông Nguyễn Văn Kênh, Bí thư Chi bộ, Trưởng thôn Lãng Xuyên cho biết trong suốt thời gian từ năm 2000-2009, đình bị xuống cấp trầm trọng. Toàn bộ phần nóc, rui, mè bị mối mọt, ngói xô lệch nên cứ mưa là dột, tường đình bị nứt, một số linh vật phía ngoài và mảng chạm khắc bị hư hỏng, bong tróc, một số chân cột đình bị mối mọt…
Năm 2009, được Nhà nước cho phép, cùng sự tích cực tham gia đóng góp của nhân dân, đình đã được trùng tu lớn. Toàn bộ phần nóc được làm mới, mái ngói được thay mới, chỉ giữ lại ngói cũ ở mái trước gian đại bái; phục dựng lại các cấu kiện gỗ, các mảng phù điêu bị bong tróc, đắp lại một số linh vật… với tổng kinh phí khoảng 700 triệu đồng, trong đó nhân dân đóng góp 600 triệu đồng.
Lần trùng tu lớn thứ 2 là năm 2016, nhân dân và con em xa quê đã đóng góp kinh phí mua lại phần đất của người dân để mở rộng diện tích đình từ 300 m2 ra hơn 1.000 m2 và tôn tạo lại giếng làng, san lấp, tôn nền lát gạch sân, xây sân khấu… với tổng kinh phí hơn 1 tỷ đồng. Hiện, ngôi đình có không gian rộng rãi, thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội và các sự kiện của làng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân.
Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020
Trương Đỗ 3 lần dâng sớ can vua
Một đời làm quan liêm khiết, trung kiên, sau 3 lần dâng sớ can vua không được, Ngự sử đại phu Trương Đỗ đã treo mũ từ quan về quê dạy học.
3 lần khuyên vua không thành
Theo những tài liệu lịch sử, Trương Đỗ là người xã Phù Tải, huyện Vĩnh Lại, nay là thôn Phù Tải 2, xã Thanh Giang (Thanh Miện). Không ai rõ năm sinh, năm mất của ông, chỉ biết ông là người văn võ song toàn, thi đỗ tiến sĩ vào thời vua Trần Nghệ Tông (1321-1394). Ông làm quan tới chức Ngự sử đài tư giám đình úy tự khanh trung đô phủ tổng quản, thường gọi là Ngự sử đại phu Trương Đỗ. Suốt đời làm quan, ông luôn sống liêm khiết, giản dị, nghèo túng.
Nhà khoa bảng Vũ Khâm Lân không a dua
Tiến sĩ Vũ Khâm Lân có nhiều công lao với nước, với dân, được triều đình phong kiến nhà Lê ban tặng nhiều sắc phong.
Vũ Khâm Lân hiệu là Di Trai, quê xã Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ (nay là thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn, TP Hải Dương). Ông sinh năm Quý Mùi (1703), trước có tên là Vũ Khâm Thận, sau đổi là Vũ Khâm Lân. Sinh ra trong một gia đình nghèo khó nhưng từ nhỏ Vũ Khâm Lân sớm có tư chất thông minh hơn người.
Bảo tồn ngôi nhà cổ của cụ Nghè Tân
Ngay giữa lòng TP Hải Dương hiện còn ngôi nhà của cụ Nghè Tân. Đây là căn nhà duy nhất của quan lại thời phong kiến còn sót lại và đang được các thế hệ làm bảo tàng Hải Dương gìn giữ.
Ngôi nhà độc nhất
Về sự xuất hiện của ngôi nhà này, qua một số khảo cứu và hội thảo, nhiều đánh giá của các nhà sử học đều nghiêng về giả thuyết: do tài đức của mình nên cụ được vua ban tiền làm nhà. Vì chán cảnh quan trường, cụ đã bán nhà cho một viên quan ở huyện Gia Lộc để lấy tiền công đức, phục dựng miếu làng Thượng Cốc, rồi bỏ đi ngao du.
Ngôi nhà 5 gian được làm bằng gỗ đinh, gỗ lim đã được phục dựng và trưng bày trong khuôn viên Bảo tàng tỉnh gần 30 năm qua thể hiện tâm huyết của các thế hệ cán bộ bảo tàng. Đây là một di sản quý không phải nơi nào cũng gìn giữ được. Đặc biệt hơn đó còn là ngôi nhà của quan lại phong kiến duy nhất còn giữ lại được ở Hải Dương.
Để phát hiện, gìn giữ và mang về phục dựng ngôi nhà ở Bảo tàng tỉnh là một cố gắng rất lớn của những cán bộ bảo tàng. Khi phát hiện ngôi nhà của cụ Nghè Tân, ông Tăng Bá Hoành đang là Giám đốc Bảo tàng tỉnh. Cách đây gần 30 năm, khi có kế hoạch phục dựng các gian nhà của tầng lớp thượng lưu, trung lưu và hạ lưu, ông cùng đồng nghiệp đã chắp nối nhiều thông tin và đã phát hiện ra ngôi nhà cổ ở thôn Phúc Mại, xã Gia Tân (Gia Lộc). Qua một số thông tin chắp vá của chủ nhà và các cứ liệu lịch sử, các cán bộ bảo tàng khẳng định ngôi nhà gắn liền với chủ nhân đầu tiên của nó, đó là cụ Nghè Tân.
Thứ Ba, 13 tháng 10, 2020
Rươi Hải Dương
Con rươi trông gần giống một con đỉa lai con rết bởi vì cái thân hình nhũn nhũn nhưng rất nhiều chân của nó. Khi sống rươi mềm mềm đủ mầu xanh, đỏ, vàng, xám vằn vện trong lớp nhớt quánh như hồ và sặc mùi tanh tanh đến khó chịu. Thế mà lạ thật, cái con vật xấu xí “đáng sợ” ấy khi đã qua bàn tay khéo léo của các bà nội trợ lại trở thành “đặc sản” thơm ngon khó quên.

Rươi là một giống hải trùng có nhiều ở Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình…Ăn rươi phải có mùa nên rươi quý lắm. Vào những ngày mùng 5 tháng 9, 25 tháng 10, tháng 10 mùng 5 là những ngày nước thủy triều dâng lên, những con rươi chui ra khỏi mặt đất (người ta gọi là nứt lỗ rươi), người ta mới đem xăm hoặc vợt làm bằng vải màn đi vớt rươi. Bắt đầu từ đây, rươi vội vã được chuyển đi để nêm đủ phong vị ẩm thực cho đất Hà Thành. Ngày nay phố Hàng Rươi vẫn tồn tại nhưng không còn cảnh mua bán tấp nập như trước nữa. Nhưng mỗi lần định ăn rươi, người ta vẫn nghĩ và tìm đến nơi đây đầu tiên. Người đi bán vội vã mà người mua cũng vội vã. Nếu không nhanh thì ta đã bỏ lỡ cơ hội thưởng thức một món đặc sản chỉ xuất hiện vài lần ngắn ngủi trong năm. Rươi giàu chất đạm, ăn nó có tác dụng bồi bổ sức khỏe. Với những người mới ốm dậy hay bị ho thì chớ có ham món rươi làm gì, vì ăn vào không tốt.
Di tích đình Rồng và tấm bia di văn quý giá
Tọa lạc trên khu đất cao ráo, thoáng rộng ngay đầu làng, đình Rồng, xã Quốc Tuấn (Nam Sách) - di tích cấp tỉnh được Nhà nước xếp hạng năm 2013 mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học.
Độc đáo giếng Viết, bia Học
Đến nay, nhiều học sinh, người dân Cẩm Giàng vẫn giữ phong tục trước khi thi đến lấy nước ở giếng Viết về uống, thắp hương trước bia Học để cầu mong đỗ đạt.
Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020
Gốm Chu Ðậu - Làng nghề truyền thống Việt
Nét đặc trưng của sản phẩm gốm Chu Ðậu (Trúc Thôn, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) thể hiện ở kiểu dáng, màu men và các hoa văn họa tiết tinh xảo mang bản sắc văn hóa dân tộc…








